Khái quát chung về thủ tục đầu tư

Từ khâu chuẩn bị đầu tư đến khi dự án đầu tư được triển khai trên thực tế, thủ tục đầu tư chính là cầu nối giữa hai giai đoạn này. Để đảm bảo sự quản lý của nhà nước đối với các dự án đầu tư cũng như các hoạt động sản xuất kinh doanh, tránh sự thất thoát, lãng phí, kém chất lượng trong hoạt động đầu tư pháp luật đã ràng buộc các nhà đầu tư bằng thủ tục đầu tư. Đồng thời thông qua thủ tục đầu tư nhà nước thừa nhận tính chất hợp pháp của các dự án đầu tư, bảo vệ những quyền và lợi ích chính đáng cho các nhà đầu tư.

Luật đầu tư cũng quy định trong một số trường hợp nhà đầu tư không phải tiến hành thủ tục đầu tư cho dự án: đó là các dự án đầu tư trong nước, dự án có vốn đầu tư nước ngoài nhưng nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ số vốn nhỏ hơn 51% vốn điều lệ trong tổ chức kinh tế được thành lập. Trong những dự án đầu tư bắt buộc phải thực hiện thủ tục đầu tư có những dự án phải xin chủ trương đầu tư (gồm phải xin chủ trương đầu tư của Quốc hội, của Chính Phủ, và của Ủy ban nhân dân tỉnh) và những dự án đầu tư không phải xin chủ trương đầu tư.

Khái quát chung về thủ tục đầu tư

Luật đầu tư 2014 được coi là thành tựu trong lĩnh vực lập pháp Việt Nam bởi lẽ đã quy định rõ ràng thời hạn được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư kể cả trường hợp phải xin chủ trương đầu tư hay không. Hạn chế được tình trạng chậm trễ thực hiện dự án đầu tư trong thời gian vừa qua, nhiều dự án đầu tư đã được cấp chủ trương đầu tư nhưng lại không được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Trước khi luật đầu tư hiện hành ra đời, nỗi lo ngại lớn nhất của nhà đầu tư chính là việc xin cấp giấy chứng nhận đầu tư.

Ngoài ra khi xác định thủ tục đầu tư, vấn đề quan trọng nhất cần phải xem xét đó là về hình thức đầu tư mà nhà đầu tư lựa chọn bởi lẽ các hình thức đầu tư khác nhau thì thủ tục đầu tư cũng khác nhau.