Vốn của công ty cổ phần

Thành lập công ty cổ phần
Thành lập công ty cổ phần

Điều kiện lịch sử đã ảnh hưởng tới sự ra đời muộn của pháp luật về công ty ở Việt Nam nói chung và công ty cổ phần nói riêng, nó chỉ thực sự xã hội ở Việt Nam kể từ thời kỳ Pháp thuộc. Theo quy định pháp luật thì khi thành lập doanh nghiệp nói nghĩa rộng và thành lập công ty cổ phần nói hẹp phải đáp ứng những điều kiện nhất định. Cụ thể là phải đáp ứng những điều kiện về chủ thể thành lập, chủ thể góp vốn; có vốn điều lệ, tên doanh nghiệp, điều kiện về trụ sở làm việc, chứng chỉ hành nghề…

Thành lập công ty cổ phần
Thành lập công ty cổ phần

Khi một cá nhân hay một tổ chức nào mua cổ phiếu của công ty cổ phần tức là họ đã dịch chuyển vốn kinh doanh của mình theo những hình thức xác định vào công ty cổ phần và phần vốn góp đó trở thành tài sản thuộc quyền sở hữu công ty, tương ứng với số vốn cổ đông được hưởng các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ việc góp vốn. Sau khi thành lập công ty, với tư cách là một pháp nhân, công ty có năng lực pháp luật độc lập, có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ thương nhân hoàn toàn riêng biệt khỏi các quyền và nghĩa vụ dân sự của các cổ đông vì công ty là chủ thể của quyền sở hữu vốn tài sản đó.

Vốn của công ty chính là giới hạn phân định sự rủi ro tài chính của các cổ đông trên toàn bộ số vốn đã dồn vào công ty, nên nghĩa vụ của họ đối với các nghĩa vụ của công ty được hạn chế trong phạm vi số vốn mà họ đã đầu tư vào cổ phiếu của mình. Xét về phương diện sự tách bạch về tài sản thì các cổ đông không được sở hữu khối tài sản của công ty cổ phần nên họ không phải chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty cổ phần; công ty cổ phần chịu trách nhiệm đối với các nghĩa vụ bằng số vốn tài sản của công ty. Cả công ty cổ phần lẫn chủ nợ của công ty đều không có quyền khởi kiện cổ đông trừ trường hợp cổ đông nợ công ty do chưa đóng đủ vốn hoặc chưa thanh toán đủ tiền mua cổ phiếu phát hành cho công ty cổ phần.